Xuyên Cổ Đại Làm Thầy, Học Trò Run Rẩy › Chương 4
Chương 4: Sạp viết thư thuê ở trấn Bình An
Chương 4· 3.605 từMiễn phí
Chương 4: Sạp viết thư thuê ở trấn Bình An
Sở Từ cùng chàng thợ săn đứng trò chuyện thêm vài câu thì từ trên sườn núi bỗng có thêm mấy người vội vã chạy xuống.
“Kìa, Sở tú tài, Tần tiểu ca, hai người các ngươi quen biết nhau từ trước sao?”
Người vừa cất tiếng hỏi chính là thôn trưởng thôn Trường Khê. Ông vừa thở vừa cười ha hả nhìn con lợn rừng to đùng nằm sóng soài trên mặt đất, tiện chân đưa mũi giày đá đá vào thân nó mấy cái.
“Dạ không quen ạ. Vừa rồi con lợn rừng này bị lùa từ trên núi xuống bất ngờ lao thẳng về phía cháu, may nhờ có Tần tiểu ca đây kịp thời ra tay cứu giúp.”
“Ôi dào, là do lão già này sơ suất quá!” Thôn trưởng vỗ trán đánh bốp một cái: “Sáng nay trong làng mời Tần tiểu ca cùng mấy tay thợ săn lão luyện lên núi lùng bắt lợn rừng, ta lại quên bẵng mất không báo cho cháu biết hôm nay chớ có đi con đường này ra khỏi thôn.”
Sở Từ trong lòng hiểu rõ, sở dĩ thôn trưởng hạ mình nói lời xin lỗi như vậy hoàn toàn là nể trọng thân phận tú tài của anh, chứ nếu là một người dân thường nào khác thì có khi đã bị mắng té tát vì tội điếc không sợ súng rồi.
“Chuyện không liên quan đến đại thúc đâu ạ, là do cháu sơ ý không để tâm thôi. Nhưng hiện giờ con lợn này đã bị hạ rồi, ra khỏi thôn chắc không còn gì nguy hiểm nữa chứ ạ?”
“Chuyện này... e là trên núi vẫn còn sót lại vài con lợn rừng khác. Sáng giờ tuy đã đánh chết được bốn con to, nhưng lỡ như...” Thôn trưởng vẫn tỏ vẻ ngập ngừng lo ngại.
“Để cháu hộ tống Sở tú tài một đoạn đường vậy.”
Tần Chiêu đứng bên cạnh bỗng nhiên lên tiếng: “Vừa nãy là do cháu lùa lợn xuống núi làm Sở tú tài kinh động một phen, coi như bồi tội, cháu sẽ đi theo hộ tống y một mạch đến thị trấn. Đám lợn rừng lớn trong núi cơ bản đã bị tiêu diệt gần hết rồi, số còn lại chỉ là lũ lợn con, không có mặt cháu ở đây cũng chẳng hề gì.”
“Thế thì tốt quá rồi! Vậy Sở tú tài, cháu cứ để Tần tiểu ca đi cùng cho an tâm nhé.” Thôn trưởng mừng rỡ đồng ý ngay, ông thực sự lo sợ vị tú tài duy nhất của cả thôn chẳng may xảy ra chuyện bất trắc gì.
Sở Từ ngẫm nghĩ một chút thấy cũng phải, bên cạnh có một tay thợ săn mình đồng da sắt mang theo đại đao đi cùng thì cảm giác an toàn tăng lên gấp bội, thế là anh mỉm cười gật đầu đồng ý.
Hai người sóng vai cất bước hướng về phía trước. Đi được một đoạn, Sở Từ quay sang mở lời: “Chưa kịp hỏi cao danh quý tánh của Tần tiểu ca?”
“Hì hì, không dám nhận, ta tên Tần Chiêu. Còn Sở tú tài, đại danh của huynh là gì thế?”
“À, ta tên Sở Từ. Huynh đệ là người vùng nào?”
“Ta là người thôn Khúc Đàn, từ thôn các huynh đi ra độ chừng bốn năm dặm rồi rẽ ngoặt là tới. Nếu cắt ngang qua đường núi thì gần hơn nhiều.”
“Hóa ra là thôn Khúc Đàn, ta nghe người ta bảo phong cảnh bên ấy hữu tình lắm.”
“Ôi chao, làm sao sánh được với làng của huynh chứ! Thôn Trường Khê các huynh mới là nơi khiến làng trên xóm dưới quanh vùng này ngưỡng mộ đỏ cả mắt đấy.”
“Thật sao? Sao ta lại chưa từng nghe nói qua chuyện này nhỉ?” Sở Từ vội lục lọi lại mớ ký ức của nguyên chủ, nhưng xem chừng mảnh đất cằn cỗi ấy xưa nay chẳng có sản vật gì đặc sắc cả.
“Thì chính là vì có huynh đấy thôi! Khắp cái huyện Viên Sơn này ai mà chẳng biết thôn Trường Khê sinh ra được một vị tú tài mới mười bốn tuổi. Nếu không phải phong thủy đất làng cực tốt, mồ mả tổ tiên bốc khói xanh phát phúc thì làm sao có được kỳ tích như thế chứ!”
Khoảnh khắc hiểu ra vấn đề, Sở Từ không khỏi có chút ngượng ngùng đỏ mặt. Nhớ năm xưa khi anh thi đỗ vào trường Đại học Bắc Kinh danh giá, bạn bè người thân xung quanh ai nấy đều mang vẻ mặt hiển nhiên “thằng bé này đỗ là phải rồi”, khiến anh hồi đó còn hụt hẫng mất mấy ngày liền.
Sở Từ nhận thấy Tần Chiêu này tính tình cởi mở, rất biết cách trò chuyện. Chỉ trong một buổi sáng nay, số lời anh nói với Tần Chiêu còn nhiều hơn cả mười mấy ngày nằm dưỡng bệnh ở nhà cộng lại. Nhân cơ hội trời cho này, Sở Từ khéo léo hỏi bóng hỏi gió đủ thứ chuyện trên trời dưới đất để lấp đầy những lỗ hổng kiến thức thực tế mà nguyên chủ mọt sách bỏ quên bấy lâu nay.
Vừa đi vừa nói chuyện rôm rả, chẳng mấy chốc bóng dáng thị trấn đã hiện ra trước mắt.
Ba chữ lớn “Trấn Bình An” uy nghiêm khắc trên mặt tường thành sừng sững đón gió. Sở Từ kiếp trước vốn học chuyên ngành Hán ngữ cổ đại, việc đọc và hiểu các chữ Hán phồn thể này đối với anh chỉ là chuyện dễ như trở bàn tay.
Cổng thành trấn Bình An quy mô nhỏ hơn huyện thành đôi chút, hai bên cổng có hai nha dịch tay lăm lăm trường mâu đứng canh gác nghiêm cẩn. Nhìn ngắm lối kiến trúc tường thành rêu phong cổ kính này, Sở Từ thầm nghĩ nếu như cha mẹ khảo cổ của mình ở kiếp trước mà được tận mắt nhìn thấy nơi này, chắc hẳn họ sẽ vui mừng đến phát khóc.
Nghĩ đến đó, đáy lòng anh bỗng dâng lên một nỗi buồn man mác. Rốt cuộc thì tình máu mủ ruột rà vẫn là thứ khó lòng buông bỏ nhất. Dù gia đình anh ở thế giới kia có phần lạnh lùng xa cách, nhưng dẫu sao họ vẫn là đấng sinh thành của anh.
Sở Từ khẽ thở dài. Giá như anh có thể hoán đổi linh hồn với nguyên chủ Sở Từ của thời cổ đại này thì tốt biết bao, như vậy cha mẹ ở bên kia cũng không phải chịu cảnh người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh đau đớn.
Thế nhưng giờ đây nghĩ nhiều cũng chẳng giải quyết được gì. Điều cấp bách nhất trước mắt là phải làm sao chăm lo cho thật tốt gia đình nghèo khó này. Đã mượn thân xác của người ta, dù không phải do bản thân tự nguyện, thì cũng phải có trách nhiệm gánh vác trọn vẹn thay người.
Tần Chiêu không hiểu trong đầu Sở Từ đang nghĩ ngợi điều chi, chỉ thấy anh đứng ngẩn ngơ với vẻ mặt đầy cảm khái thăng trầm, cứ ngỡ anh lại chạnh lòng nhớ tới vụ án oan sai vừa qua, bèn kéo nhẹ tay áo anh kéo về thực tại:
“Sở tú tài, tới nơi rồi, chúng ta mau vào thành thôi.”
Dòng người trật tự xếp hàng lần lượt bước qua cổng. Hai tên nha dịch đứng gác chỉ lơ đãng liếc mắt đánh giá một lượt rồi xua tay cho đi qua.
Vốn dĩ trước đây, mỗi người dân khi vào cổng thành đều phải nộp một đồng tiền phí vào cửa. Thế nhưng từ năm ngoái, vị Huyện lệnh mới nhậm chức vừa về huyện Viên Sơn đã lập tức ban lệnh bãi bỏ khoản thu này. Quyết định táo bạo ấy ban đầu từng khiến đám sai dịch dưới trướng vô cùng bất mãn vì mất đi một nguồn thu béo bở. Tuy nhiên, sau khi bãi bỏ phí vào thành, lượng người đổ về buôn bán giao thương tăng vọt, các phường buôn làm ăn phát đạt, tiền thuế thương nghiệp nộp về tăng gấp bội. Quan Huyện lệnh liền trích ra nửa phần thuế thương mại chia đều cho toàn bộ nha lại sai dịch từ trên xuống dưới trong nha môn. Khoản bổng lộc dồi dào ấy lập tức bịt chặt miệng tất cả bọn họ, đồng thời giúp vị quan phụ mẫu này đứng vững gót chân tại đất Viên Sơn.
Cổng trấn Bình An trực thuộc huyện thành đương nhiên cũng được hưởng chung lệ ấy, người dân ra vào hoàn toàn tự do.
Trấn Bình An quản hạt bốn năm thôn lớn cùng hơn mười thôn bản nhỏ nằm rải rác xung quanh. Mỗi ngày người qua kẻ lại tấp nập, buôn bán ngược xuôi, cảnh tượng cũng coi như một góc phồn hoa đô hội, dẫu rằng chưa thể so bì được với quy mô của chốn huyện lỵ.
Bước chân vào bên trong thị trấn, Sở Từ vô cùng hào hứng đưa mắt ngắm nhìn khắp lượt những công trình kiến trúc cổ kính và cách bài trí nơi phố phường. Quả đúng là trăm nghe không bằng một thấy, tranh vẽ thơ ca dù có tả thực đến đâu cũng chẳng thể nào lột tả hết được sự sống động mà mắt trần đang chiêm ngưỡng. Trong khoảnh khắc này, Sở Từ cảm thấy bản thân dường như đã hoàn toàn rũ bỏ lớp vỏ của một người hiện đại để hòa mình vào cuộc sống của một người dân thời phong kiến.
Tiết trời đang độ giữa thu, mùa màng cây trái bội thu, những người nông dân gồng gánh lên chợ bán hầu hết đều mang theo các loại nông sản trong vườn nhà hoặc những gùi quả dại hái được trên rừng.
“Sở tú tài, ta tiễn huynh đến đây thôi nhé, ta còn phải vòng qua mạn chợ phía đông có chút việc. À đúng rồi, lúc về huynh cứ việc thong dong đi theo đường cái lớn, không lo lợn rừng nữa đâu.”
“Đa tạ Tần Chiêu huynh đệ nhé.”
“Ôi dào, có gì đâu mà cảm ơn, chuyện nhỏ như con thỏ ấy mà!” Tần Chiêu phất tay một cái thật sảng khoái rồi quay người sải bước đi mất hút vào dòng người.
Người cổ đại thật là chân chất thuần hậu biết bao!
Sở Từ nhìn theo bóng lưng anh ta mà trong lòng không khỏi xúc động. Người ở thời hiện đại toan tính khôn lanh đến mức nào chứ, ngay cả một đứa trẻ tiểu học đôi khi cũng biết giở mưu mẹo đối phó người lớn. Anh khẽ lắc đầu, trong lòng cảm thán nhân tình thế thái một câu rồi tiếp tục cất bước về phía trước.
Hai bên mặt phố, các hàng quán tiệm buôn đều đã mở toang cửa đón khách. Phía trước mỗi cửa hiệu đều treo một lá cờ vải lớn tung bay phần phật trong gió sớm, bên trên đề rõ tên tiệm cùng ngành nghề kinh doanh.
Khi bước chân ngang qua một quầy bán bánh bao ven đường, một mùi hương ngào ngạt quyến rũ bất ngờ ập thẳng vào mũi Sở Từ. Thịt lợn băm nhuyễn trộn cùng hành hoa tươi gói trong lớp vỏ bột trắng mịn vừa mới được nhấc ra khỏi xửng hấp nghi ngút khói, hương thơm đậm đà ấy đủ sức khiến cho một người đã nhiều ngày nay chưa được nếm mùi dầu mỡ như Sở Từ phải nuốt nước bọt ừng ực.
Anh đưa tay sờ vào túi áo ngực. Bên trong ngoài mẩu bạc vụn hai tiền mà chị dâu vừa dúi cho sáng nay thì chỉ còn vỏn vẹn hơn hai mươi đồng tiền lẻ phòng thân.
“Ông chủ, bánh bao này bán bao nhiêu tiền một cái thế?”
“Vị khách quan này, bánh bao thịt nhà chúng tôi ba đồng hai chiếc, vỏ mỏng nhân dày, cắn ngập miệng tứa mỡ thơm lừng, ăn vào sướng cả người! Ngài muốn lấy mấy chiếc nào?”
Chủ quán bánh bao vừa thấy anh khoác trên mình bộ áo dài nho nhã, tưởng đâu gặp được vị công tử nhà giàu có tiền nên thái độ vô cùng đon đả nhiệt tình.
Sở Từ lại thò tay nắn nắn chiếc túi rỗng tuếch của mình, sau đó nghiêm mặt nói: “Mấy ngày nay trong người ta có chút nóng trong, ăn đồ dầu mỡ vào dễ sinh bệnh. Bánh bao thịt này mỡ màng quá, thôi để dịp khác vậy.”
Nói đoạn, anh dứt khoát quay người toan bước đi, trong lòng thầm rơi hai hàng lệ đắng cay. Một bước xuyên không sang đây, đến một chiếc bánh bao thịt ba đồng cũng chẳng nỡ rút tiền ra mua, chất lượng cuộc sống này tụt dốc không phanh nhanh quá rồi đấy!
“Ấy ấy, khách quan xin dừng bước đã! Nếu ngài ngại ngấy dầu mỡ thì chỗ tôi đây còn có bánh bao nhân rau dại thanh đạm gột sạch mỡ thừa, ăn vào mát ruột thơm nức mũi, chỉ một đồng hai chiếc thôi!”
“Thế thì cho ta hai chiếc nếm thử xem sao.”
Sở Từ lập tức quay ngoắt người lại với tốc độ đáng kinh ngạc, tay thoăn thoắt móc ra một đồng tiền xu đặt lên mặt quầy.
Chủ quán tươi cười nhận lấy đồng tiền, dùng chiếc kẹp tre gắp hai chiếc bánh bao nóng hổi bọc gọn trong một mảnh giấy dầu đưa cho anh.
Sở Từ nói lời cảm tạ rồi cầm lấy bánh rảo bước rời đi. Ông chủ tiệm bánh bao đứng nhìn theo bóng lưng đĩnh đạc của anh, trong lòng không khỏi phân vân tự hỏi: “Rốt cuộc cái cậu thư sinh này là kẻ nghèo rớt mồng tơi hay là công tử giả nghèo giả khổ đây?”
Sở Từ lách mình tìm vào một con ngõ vắng không bóng người qua lại, lúc này mới thoải mái cắn từng miếng bánh bao thơm phức. Dù sao kiếp này mang danh tú tài, kiếp trước lại là thầy giáo cấp ba đàng hoàng, anh vẫn muốn giữ gìn chút thể diện và phong cốt của tầng lớp trí thức. Những người đọc sách bình thường sẽ chẳng bao giờ đứng giữa thanh thiên bạch nhật vừa đi vừa gặm thức ăn, trừ phi bụng đói đến mức cồn cào hoa mắt.
Hai chiếc bánh bao rau dại trôi tuột xuống dạ dày, Sở Từ cảm thấy cuộc đời mình dường như đã viên mãn trở lại. Thật ra nguyên liệu nấu nướng có quý giá hay không chẳng quan trọng, cái chính là tay nghề của người nấu. Kiếp trước gần cổng trường cấp ba của anh có biết bao nhiêu quán ăn sáng, tiệm nào ăn vào cũng nồng nặc mùi hương liệu phụ gia hóa học, làm sao sánh được với chiếc bánh bao nhân rau dại ngọt mát, thuần khiết tự nhiên không chút ô nhiễm này.
Anh rút chiếc khăn tay sạch ra lau khóe miệng, cẩn thận chỉnh đốn lại nếp áo vạt khăn cho thật ngay ngắn, sau đó ngẩng cao đầu ung dung sải bước ra phố lớn. Dáng vẻ phong nhã hào hoa ấy khiến cho không ít phụ nhân và thiếu nữ qua đường thỉnh thoảng phải liếc mắt nhìn trộm với vẻ tò mò xao xuyến.
Sở Từ kiếp trước từng đọc qua không ít tiểu thuyết mạng làm giàu thời phong kiến. Hiện tại anh vừa có học vấn uyên bác lại vừa mang sẵn thân phận tú tài đàng hoàng, cách tốt nhất để kiếm tiền lúc này là tìm đến các hội thơ tao đàn hoặc những cuộc thi thố văn chương nào đó để giật giải thưởng mang về phụ giúp gia đình.
Thế nhưng sau một hồi lượn lờ khắp các ngóc ngách, hầu như đã quan sát hết các dãy phố buôn bán của thị trấn, Sở Từ hoàn toàn chẳng tìm thấy bất kỳ một nơi chốn nào tụ tập các bậc văn nhân thi sĩ, lại càng không có chỗ nào để anh trổ tài thi phú kiếm tiền.
Tính toán sai lầm rồi! Anh đã quên bẵng mất đây chỉ là một thị trấn hẻo lánh vùng biên, làm sao có thể đòi hỏi những chốn thanh nhã sang trọng như vậy. Thậm chí ngay cả trên huyện thành Viên Sơn, e rằng cũng chẳng có lấy một tao đàn thi hội ra hồn.
Nhìn từ hoàn cảnh của Sở Từ có thể thấy, trình độ giáo dục và dân trí của vùng đất này vẫn còn rất lạc hậu, tú tài cả huyện chỉ đếm trên đầu ngón tay, còn cử nhân thì mấy năm liền chưa chắc đã có nổi một người thi đỗ. Lấy đâu ra nhiều văn nhân mặc khách rảnh rỗi tụ tập ngâm thơ đối chữ như trong sách vở miêu tả chứ?
Nếu cứ như thế này mà tay trắng quay về thì quả thực có chút mất mặt. Anh tràn đầy nhiệt huyết hăm hở bước chân ra khỏi nhà là để tìm kế sinh nhai cải thiện cuộc sống cho người thân, chứ đâu phải chỉ để cưỡi ngựa xem hoa dạo quanh một vòng rồi lủi thủi quay về?
Dáng vẻ đi đi lại lại đầy vẻ đắn đo của anh trên phố bất giác rơi vào tầm mắt của một người.
“Này, tiểu huynh đệ bên kia, lại đây một lát!”
Sở Từ nghe thấy tiếng gọi dường như đang hướng về phía mình, liền chậm rãi bước tới: “Không biết lão trượng gọi tiểu sinh có điều chi chỉ giáo?”
Người cất tiếng gọi anh là một cụ già mặc áo nho sam chỉnh tề, trông chừng đã ngoài năm mươi tuổi. Phía trước mặt ông kê một chiếc bàn gỗ nhỏ đơn sơ, bên trên dựng một tấm biển gỗ đề bốn chữ nắn nót: “Nhận viết thư thuê”.
“Lão phu thấy ngươi cứ đi đi lại lại quanh đây mãi, có phải trong lòng đang có điều gì phiền muộn khó xử không?”
“Ai chà, chẳng giấu gì lão trượng, tiểu sinh vì gia cảnh túng bấn ngặt nghèo nên muốn tìm một công việc mưu sinh để phụ giúp gia đình, khiến ngài chê cười rồi.”
“Nghe khẩu khí và cử chỉ của ngươi trông giống một người đọc sách tử tế, vậy ngươi có biết viết chữ không?”
“Tiểu sinh có biết đôi chút.”
“Thế thì tốt quá! Ngươi có thể giúp lão phu trông nom cái sạp viết thư này một buổi được không? Vừa nãy tiện nội ở nhà đột nhiên nhắn tin có việc gấp bảo ta phải về ngay. Ta ngày nào cũng ngồi bày sạp ở góc phố này, nay đùng một cái bỏ về thì sợ lỡ dở thư từ của bà con lối xóm. Ngươi chỉ cần đưa cho ta hai mươi đồng tiền bù vào tiền giấy mực bút nghiên, hôm nay sạp này kiếm được bao nhiêu tiền ngươi cứ việc giữ lấy mà tiêu. Đến lúc hoàng hôn buông xuống sẽ có người nhà của ta ra thu dọn bàn ghế mang về.”
Sở Từ nhẩm tính thiệt hơn trong chốc lát, sau đó dứt khoát gật đầu đồng ý.
Anh móc từ trong túi ra hai mươi đồng tiền xu đưa cho ông lão: “Tiểu sinh còn chưa kịp thỉnh giáo tôn tính đại danh của lão tiên sinh?”
“Không dám nhận, lão phu họ Trần tên Húc, bà con lối xóm quanh đây đều gọi ta một tiếng Trần bá.”
“Trần bá mạnh khỏe, tiểu sinh Sở Từ xin bái kiến.”
“Sở Từ sao? Ngươi... ngươi chính là Sở Từ ở thôn Trường Khê, người đã thi đỗ tú tài năm mới mười bốn tuổi đó ư?”
“Đúng là tiểu sinh, thật hổ thẹn, hổ thẹn quá.” Sở Từ có chút ngượng ngùng đỏ mặt. Một tú tài công danh rạng rỡ mà nay lại phải lưu lạc ngồi sạp viết thư thuê đầu đường xó chợ thế này.
“Ngươi mà còn phải hổ thẹn thì lão già này biết giấu mặt vào đâu chứ! Lão phu đây mãi đến năm năm mươi tuổi — cái tuổi tri thiên mệnh — mới trầy trật thi đỗ được cái bằng tú tài đấy! Quả đúng là hậu sinh khả úy! Nói ra thì ta với ngươi còn là đồng khoa cùng năm nữa đấy nhé!”
Trần bá cười ha hả, nét mặt lộ rõ vẻ tự hào sảng khoái, không hề có chút mặc cảm hay tự ti nào.
Ấn tượng của Sở Từ đối với Trần bá trong khoảnh khắc này bỗng trở nên vô cùng tốt đẹp. Một vị tú tài tính tình rộng lượng, cởi mở, không vướng bận chút mùi hủ nho gàn dở nào như thế này tuyệt đối là một bậc tiền bối rất đáng để kết giao bạn bè.
Chỉ tiếc là ông đang có việc gấp ở nhà phải đi ngay, nếu không thì hai người ngồi lại đàm đạo thêm dăm ba câu chuyện văn chương thế sự chắc hẳn sẽ thú vị lắm.
Bình luận0
Chia sẻ cảm nhận của bạn về bộ truyện này
Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận.