Bản Tình Ca Phá Cấm › Chương 77
Chương 77: Cắt Đứt Mạng Xã Hội - Sự Tự Lưu Đày Của Lâm Thâm
Chương 77· 3.731 từMiễn phí
Chương 77: Cắt Đứt Mạng Xã Hội - Sự Tự Lưu Đày Của Lâm Thâm
Chiếc điện thoại nằm gọn trong lòng bàn tay tôi, màn hình phát sáng rực rỡ. Từng thông báo tin tức nối tiếp nhau nhảy múa không ngừng trên thanh trạng thái, những con chữ nổi bật trên từng dòng tiêu đề đập vào mắt khiến khóe mi tôi cay xè: "Thẩm Nghiễn Chu công khai tỏ tình", "Lâm Thâm hồi đáp", "Chấn động toàn mạng xã hội". Tôi dán chặt ánh mắt nhìn chăm chú vào dòng thông báo tin tức không ngừng được làm mới liên tục ấy, đầu ngón tay lơ lửng ngay phía trên mặt kính, nhưng tuyệt nhiên không hề bấm xuống.
Chiếc xe vẫn đang dừng đỗ bên lề đường, động cơ xe chưa hề tắt máy, luồng gió lạnh từ miệng điều hòa phả ra lành lạnh thấu da thịt. Ngoài khung cửa sổ là một con phố cổ rợp bóng cây, những hàng cây ngô đồng già cỗi lá vàng đã rụng gần hết, từng nhánh cây khẳng khiu trơ trụi vươn lên nền trời xám xịt mông lung. Trên mặt đường rất thưa thớt bóng người qua lại, một bác công nhân vệ sinh đẩy chiếc xe ba bánh chậm rãi đi lướt qua, tiếng chổi tre quét rào rạo trên mặt đất đứt quãng vọng vào trong xe.
Tôi cúi đầu nhìn chiếc điện thoại, trong tâm trí lại bất giác hiện lên hình bóng anh trên sân khấu lớn tối qua. Ánh đèn rọi thẳng lên gương mặt anh, đường nét góc cạnh trông có phần lạnh lùng hơn bình thường, thế nhưng ánh mắt sâu thẳm của anh lại hoàn toàn không hề có vẻ xa cách và lạnh nhạt như thường ngày. Khi anh cất giọng hát xong câu hát cuối cùng, anh đã từ tốn ngước mắt nhìn sang — cái nhìn ấy chuẩn xác đến lạ thường, như thể rơi thẳng lên người tôi. Tôi đã không hề cúi đầu né tránh, và cũng chẳng hề có lấy một cử động nhỏ, cứ thế ngồi yên bất động cho đến khi anh cúi chào khán giả rồi quay lưng rời khỏi sân khấu.
Giờ đây toàn bộ những câu từ trong ca khúc ấy đều bị cư dân mạng đào bới và mổ xẻ ráo riết, từng câu, từng chữ đều được mang ra phân tích tỉ mỉ, rằng câu hát này là anh viết riêng cho ai, câu hát kia lại đang ngầm ám chỉ điều gì. Tôi biết rất rõ những gì họ phỏng đoán đều không hề sai chút nào. Tôi cũng biết rõ một điều rằng, bản thân mình tuyệt đối không nên tiếp tục chạm vào những thứ thị phi này nữa.
Thế nhưng đến cuối cùng, tôi vẫn đưa ngón tay bấm mở ứng dụng mạng xã hội của chính mình.
Trang cá nhân vừa tải xong giao diện, ảnh đại diện vẫn là bức ảnh chụp trong một đêm diễn âm nhạc trước đây của tôi, phần giới thiệu bản thân vỏn vẹn mấy chữ mộc mạc: "Một người làm âm nhạc". Số lượng người theo dõi dừng lại ở con số hơn hai triệu người, bài đăng gần đây nhất là bức ảnh chụp phòng tập kịch từ nửa tháng trước, dòng trạng thái đi kèm chỉ có hai chữ ngắn ngủi: "Tiếp tục".
Tôi bấm vào mục cài đặt tài khoản, tìm đến tùy chọn hủy bỏ tài khoản vĩnh viễn. Hệ thống liên tục hiện lên ba lần hộp thoại cảnh báo xác nhận, tôi đều không chút đắn đo bấm chọn "Đồng ý". Quá trình xử lý diễn ra vô cùng nhanh chóng, chỉ vài giây sau trang web liền nhảy trở về giao diện đăng nhập ban đầu, tài khoản mang tên Lâm Thâm đã hoàn toàn không còn tồn tại trên không gian mạng nữa. Tôi lại mở danh bạ điện thoại lên, đem toàn bộ những số liên lạc công việc, bạn bè trong giới, các phóng viên báo chí kéo hết vào danh sách chặn, tắt toàn bộ quyền nhận thông báo tin nhắn và cuộc gọi của ứng dụng. Sau khi làm xong tất cả những điều này, tôi ấn giữ nút nguồn thật lâu, chờ cho màn hình hoàn toàn tối sầm lại, rồi nhét sâu chiếc điện thoại vào túi trong của chiếc áo khoác.
Chiếc xe lại một lần nữa khởi động, tôi đạp chân ga, dứt khoát lái xe rời khỏi con phố ấy.
Tôi lái xe chạy thẳng về phía vùng ngoại ô của thành phố, băng qua vài ngã tư đèn xanh đèn đỏ, rồi rẽ vào một con ngõ nhỏ quanh co và chật hẹp. Những dãy nhà tập thể cũ kỹ hai bên đường đã nhuốm màu thời gian, từng mảng vôi vữa trên tường bong tróc lở lói, những dây phơi quần áo giăng mắc ngang dọc chằng chịt khắp không gian. Tôi dừng xe trước một tòa nhà tập thể cũ cao sáu tầng, vũng nước mưa đọng nơi chỗ đỗ xe bị bánh xe nghiền qua phát ra một tiếng vang trầm đục.
Chùm chìa khóa vẫn nằm yên trong túi quần, đó là chiếc chìa khóa tôi còn giữ lại từ nhiều năm về trước khi bản thân còn là một kẻ vô danh thuê trọ ở nơi này. Ổ khóa bằng sắt đã hoen rỉ và hơi rít, tôi phải xoay đi xoay lại hai lần mới có thể mở được then cửa ra. Bước chân vào bên trong, một mùi bụi bặm ẩm mốc lâu ngày không có hơi người lập tức xộc thẳng vào mũi. Rèm cửa sổ kéo kín mít, chỉ có vài tia sáng len qua khe hở rọi vào, soi tỏ rõ mồn một từng hạt bụi li ti đang lơ lửng chao đảo trong không khí. Tôi cất bước đi tới giật toang rèm cửa ra, ánh nắng mặt trời rọi thẳng xuống sàn nhà, làm lộ ra từng vòng dấu chân mờ nhạt từ thuở nào.
Chiếc ghế sofa cũ vẫn nằm yên ở vị trí quen thuộc nơi góc phòng, mặt vải bọc màu xám xịt đã sờn rách, bên trên có phủ một tấm ga trải giường cũ kỹ để che bụi. Tôi vén tấm ga lên rồi ngồi xuống, những cuộn lò xo bên dưới lập tức phát ra tiếng kẽo kẹt quen thuộc. Chiếc đồng hồ tròn treo trên vách tường từ lâu đã ngừng hoạt động, kim đồng hồ chết lặng ở mốc chín giờ mười bảy phút. Tôi vẫn nhớ như in ngày hôm ấy là lần đầu tiên tôi đi thu âm chuyên nghiệp trở về, mệt mỏi đến mức vừa ngã vật ra ghế sofa là ngủ thiếp đi li bì, lúc tỉnh giấc mới bàng hoàng phát hiện bản thân đã bỏ lỡ mất cuộc gọi quan trọng, mãi sau này mới biết đó là thông báo khẩn của công ty về buổi chụp hình quảng bá vào sáng sớm ngày hôm sau.
Tôi xuống tầng khiêng chiếc vali hành lý từ cốp xe lên trên phòng, mở khóa kéo ra, lục tìm một chiếc áo nỉ có mũ đã giặt đến bạc phếch thay vào người. Sau đó tôi đi vào gian bếp nhỏ bật bếp đun một ấm nước sôi, đáy nồi nhôm đã đóng một lớp gỉ sét mỏng manh, tôi phải cọ rửa và tráng lại mấy lần nước sạch mới dám dùng. Nước sôi bốc khói, tôi bóc một gói mì ăn liền ra úp vào chiếc bát sứ, xé gói gia vị trút vào rồi dùng đũa khuấy đều hai vòng. Tôi bưng bát mì nóng hổi ngồi lại chiếc ghế sofa, vừa ăn từng sợi mì vừa ngước mắt nhìn quanh căn phòng trống trải thênh thang không một bóng người.
Ở nơi này không hề có tivi, và cũng chẳng có bất kỳ dàn loa âm thanh nào. Bản thân tôi vốn dĩ từ trước đến nay không hề quen với những nơi chốn quá đỗi ồn ào và náo nhiệt. Trước đây khi còn là thực tập sinh ngày đêm miệt mài cày cuốc, mỗi ngày trở về phòng trọ việc đầu tiên tôi làm chính là tắt toàn bộ mọi nguồn phát âm thanh, ngồi lặng lẽ trong bóng tối phát ngốc suốt một hồi lâu. Khi ấy áp lực cuộc sống và sự nghiệp quá lớn, đêm nào tôi cũng mất ngủ triền miên, thế nhưng lại không dám lạm dụng thuốc an thần, chỉ có thể nương tựa vào sự tĩnh lặng tuyệt đối này để đè nén những mớ suy nghĩ hỗn độn ngổn ngang trong tâm trí.
Ăn xong bát mì, tôi đem chiếc bát đặt vào bồn rửa bát, không buồn rửa ngay. Xoay người lại, tôi cất bước đi tới trước cây đàn piano đứng đặt nơi góc phòng khách. Nắp đàn khép chặt, tôi giơ bàn tay lau nhẹ lên mặt đàn, một lớp bụi dày lập tức bám chặt vào đầu ngón tay. Tôi không hề lật mở nắp đàn lên, chỉ đứng lặng ở nơi đó, bàn tay khẽ vuốt ve nhẹ nhàng trên lớp vỏ gỗ của cây đàn. Cây đàn này là do chính tay tôi tự gom góp tiền túi ít ỏi ra mua lại thuở hàn vi, giá tiền rẻ mạt, âm sắc rất đỗi bình thường, nhưng cũng đủ để tôi luyện ngón mỗi ngày. Sau này khi chuyển đi nơi khác tôi không mang nó theo, bác chủ nhà tốt bụng bảo cứ để lại đây cũng được, dù sao căn phòng trọ này suốt bao năm qua cũng chẳng có ai đến thuê ở.
Tôi quay trở lại chiếc ghế sofa, ngả lưng nằm xuống, nhắm nghiền hai mắt lại.
Thế giới bên ngoài dần dần chìm vào sự tĩnh lặng, ánh nắng buổi chiều rọi xéo qua khung cửa sổ, sưởi ấm đôi chân tôi có phần dễ chịu và khoan khoái. Tôi chợp mắt ngủ được một lúc, giấc ngủ chập chờn không mấy yên ổn, trong cơn mơ màng bỗng nghe thấy tiếng ai đó đang gõ cửa dồn dập, giật mình mở mắt ra mới bàng hoàng nhận ra đó chỉ là ảo giác do tâm trí quá mệt mỏi mà thôi. Tôi ngồi dậy nhìn đồng hồ đeo tay, đã gần năm giờ chiều. Tôi đứng dậy kéo rèm cửa lại, căn phòng lập tức tối sầm đi, chỉ để lại một ngọn đèn bàn nhỏ le lói ánh sáng vàng.
Bữa tối tôi vẫn tiếp tục ăn mì tôm. Lần này tôi đập thêm một quả trứng gà thả vào nồi, nấu chín rồi ngồi bên chiếc bàn nhỏ chậm rãi ăn từng miếng. Ăn xong xuôi và thu dọn sạch sẽ, tôi bước tới bên cửa sổ đưa mắt nhìn ra ngoài. Đèn đường dưới lầu vừa mới bật sáng, rọi bóng xuống khoảng sân tập thể hoang vắng. Một con mèo hoang từ gầm chiếc xe ô tô cũ chui ra, khựng lại một nhịp nhìn quanh rồi phóng vụt đi mất. Tôi đứng lặng một lúc, xoay người dứt khoát rút phích cắm của chiếc điện thoại bàn ra. Giờ đây cho dù có ai gọi vào số máy cố định này để tìm kiếm tung tích của tôi, nó cũng sẽ vĩnh viễn không bao giờ reo chuông nữa.
Sang ngày thứ hai, tôi thức giấc vào lúc sáu giờ sáng. Đã tỉnh ngủ rồi là không tài nào ngủ tiếp được nữa, tôi liền rời giường đun nước, nấu mì, ăn xong lấy chiếc khăn ẩm lau chùi sạch sẽ cây đàn piano một lượt từ trong ra ngoài. Lần này tôi lật mở nắp đàn lên, ngón tay ấn nhẹ lên phím C trung tâm, âm thanh phát ra hơi lạc tone một chút, nhưng vẫn có thể nghe được rõ ràng. Tôi không đàn thành một bản nhạc hoàn chỉnh nào, chỉ thử bấm vài nốt đơn lẻ, rồi lại từ tốn khép nắp đàn lại.
Tôi ra ngoài đi dạo vào khoảng hơn chín giờ sáng. Tôi mặc một chiếc áo nỉ có mũ trùm đầu, kéo sụp mũ xuống thấp để che kín nửa khuôn mặt. Tôi đi bộ một vòng quanh khu tập thể cũ kỹ, đi ngang qua một cửa hàng tạp hóa nhỏ nhưng không bước chân vào. Công viên nằm cách đó hai con phố, bên trong có một hồ nước nhỏ, ven bờ hồ đặt vài chiếc ghế dài bằng gỗ đã tróc sơn. Tôi chọn chiếc ghế nằm ở góc khuất nẻo nhất ngồi xuống, nhìn đăm đắm những chiếc lá vàng rơi trôi dạt lững lờ trên mặt nước. Gió ngoài trời thổi khá lớn, quất thẳng vào da mặt buốt rát. Tôi ngồi lặng lẽ ngắm nhìn mặt hồ suốt nửa tiếng đồng hồ rồi mới đứng dậy rảo bước quay về.
Ngày thứ ba cũng trôi qua một cách bình lặng và đơn điệu tương tự như vậy. Thức dậy sớm, nấu mì ăn, lau đàn piano, rồi ra ngoài đi dạo một quãng đường ngắn quanh khu phố. Lúc trở về tôi có ghé mắt nhìn vào chiếc hòm thư bằng sắt dưới chân cầu thang tầng một, bên trong hoàn toàn trống rỗng. Tòa nhà này cư dân sinh sống rất thưa thớt, phần lớn các căn hộ đều bỏ trống, thư từ gửi tới tự nhiên cũng chẳng có là bao.
Đêm ngày thứ tư, trời đổ một cơn mưa rào tầm tã. Nửa đêm tôi giật mình tỉnh giấc bởi tiếng sấm, nghe thấy tiếng nước mưa dột từ trần nhà rơi tong tong vào chiếc chậu nhựa đặt dưới sàn: tách, tách, tách, từng nhịp rơi vô cùng đều đặn. Tôi mò mẫm trong bóng tối tìm chiếc đèn pin, soi thấy chiếc chậu nhựa hứng nước nơi góc phòng khách lúc này đã đầy được một nửa. Tôi dịch chuyển chiếc chậu vào ngay dưới vệt nứt trên trần nhà, rồi lại trèo lên giường nằm xuống. Ngoài khung cửa sổ tiếng sấm rền vang rạch ngang bầu trời, ánh chớp lóe sáng rọi tỏ căn phòng trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, tôi nhìn thấy cuốn lịch treo trên tường, những trang giấy đã quăn queo ố vàng theo năm tháng, ngày tháng dừng lại ở một mốc thời gian xa xôi từ rất lâu về trước.
Tôi ngồi dậy, không buồn bật đèn, bước tới bên cửa sổ khẽ kéo rèm ra. Cơn mưa rơi không quá lớn, đường phố bên ngoài ướt sũng lấp loáng nước, ánh đèn neon từ những tòa cao ốc chọc trời phía xa xa phản chiếu trên những vũng nước đọng thành từng vệt sáng mờ ảo lung linh. Tôi đứng bất động ở đó, bàn tay trái vô thức miết nhẹ lên vết sẹo mờ nơi cổ tay trong. Giờ đây màu sắc của nó đã nhạt đi rất nhiều, sờ vào chỉ còn cảm thấy hơi gồ lên một chút xíu.
"Em không phải là không muốn nghe..." Tôi trầm giọng thì thầm một mình, âm thanh tựa như bị bóp nghẹt từ tận đáy họng, "Mà là em sợ sau khi nghe rồi, em sẽ chẳng tài nào tiếp tục giả vờ như bản thân không hề hay biết được nữa."
Nói xong câu nói ấy, chính bản thân tôi cũng bất giác sững sờ. Đã bao lâu rồi tôi không hề tự mở miệng trò chuyện với chính mình như thế này?
Tôi xoay người đi vào bếp rót một cốc nước lọc uống cạn, rồi quay về phòng nằm xuống giường. Cơn mưa đêm ngoài kia vẫn rả rích rơi đều đặn, tiếng nước dột hòa lẫn cùng nhịp thở của tôi, từng chút một trở nên êm dịu và bình ổn.
Ngày thứ năm, tôi thức dậy muộn hơn mọi khi một chút. Lúc tỉnh dậy thì ánh nắng ban mai đã tràn ngập khắp căn phòng, rải một lớp ánh sáng vàng ấm áp lên mặt sàn gỗ. Tôi ngồi dậy, phát hiện ra góc rèm cửa tối qua chưa khép chặt đã bị gió sớm thổi tung lên một góc. Bước tới trước cây đàn piano, tôi lật mở nắp đàn lên, những ngón tay đặt nhẹ lên phím đàn, chầm chậm tấu lên vài thang âm cơ bản. Từng nốt, từng nốt một gõ xuống, lắng nghe chúng vang lên trong trẻo rồi lại chầm chậm tan biến vào hư không tĩnh lặng.
Tôi vẫn kiên quyết không đàn bất kỳ một khúc ca hoàn chỉnh nào.
Buổi trưa hôm ấy, tôi vẫn tiếp tục nấu mì ăn. Ăn xong xuôi, tôi rút chiếc thẻ SIM từ trong chiếc điện thoại cũ ra, dùng hai ngón tay bẻ gãy làm đôi, rồi ném vào góc sâu nhất trong ngăn kéo bàn làm việc. Chiếc điện thoại thì tôi nhét sâu xuống tận đáy chiếc vali hành lý, phủ quần áo dày lên trên che kín. Sau đó tôi dùng kéo cắt đứt sợi dây sạc, vứt cả củ sạc vào thùng rác.
Chiều muộn hôm ấy tôi lại tản bộ ra công viên. Trên chiếc ghế dài ven hồ có một ông lão đang dắt cháu nhỏ ngồi rải thóc cho đàn chim bồ câu ăn. Tôi đi vòng sang phía bên kia hồ, tựa người vào lan can đứng ngắm nhìn hồi lâu. Trên mặt hồ dập dềnh vài phiến lá sen tàn úa, mép lá vàng khô quăn queo trôi nổi. Tôi đứng nhìn mãi cho đến khi trời nhá nhem tối mới lững thững quay gót trở về phòng.
Kể từ ngày thứ sáu, mỗi ngày tôi đều cố tình đi bộ xa hơn một đoạn đường. Tôi đi xuyên qua khu phố cổ, đi ngang qua một rạp chiếu phim cũ kỹ đã bị bỏ hoang từ lâu, tấm áp phích quảng cáo trước cửa đã rách nát tả tơi một nửa, những con chữ mờ căm chẳng thể nào đọc nổi. Đi tiếp một đoạn nữa là một con phố ẩm thực bình dân sầm uất, mùi dầu mỡ chiên xào thơm phức hòa lẫn cùng tiếng cười nói huyên náo của dòng người ập thẳng vào mặt. Tôi đứng lặng nơi góc ngã tư ngắm nhìn vài phút, không bước chân vào bên trong, rồi lặng lẽ xoay người quay trở về theo con đường cũ.
Sáng ngày thứ bảy, lúc tôi đun nước thì phát hiện chiếc bếp ga không tài nào đánh lửa được nữa. Tôi cẩn thận kiểm tra lại van khóa bình ga, hoàn toàn không hề có vấn đề gì, có lẽ là do hệ thống dây điện đánh lửa bên trong đã quá cũ mục theo năm tháng. Tôi đành tắt bếp ga đi, chuyển sang dùng chiếc ấm đun nước siêu tốc bằng điện. Bát mì nấu ra bằng nước sôi không còn nóng sốt như nấu trên bếp lửa, nhưng tôi cũng chẳng buồn bận tâm hay phàn nàn.
Chiều hôm đó, tôi ngồi trên ghế sofa lật giở cuốn sổ tay ghi chép cũ kỹ. Bên trong có lưu lại những đoạn giai điệu vụn vặt dang dở thuở trước, có đoạn được kẻ sẵn khuông nhạc năm dòng nắn nót, có đoạn chỉ vỏn vẹn vài câu ca từ ngẫu hứng bột phát. Tôi lật giở từng trang một, cuối cùng dừng lại ở một trang giấy trắng tinh. Nơi đó vốn dĩ từng được tôi nắn nót viết xuống một câu hát tâm đắc, thế nhưng sau đó lại bị chính tay tôi dùng bút mực gạch xóa chằng chịt, vết mực loang lổ nhòe nhoẹt đến mức chẳng tài nào nhận ra nguyên bản ban đầu là gì nữa.
Tôi khép cuốn sổ lại, cất trở về ngăn kéo bàn.
Buổi tối trước khi đi ngủ, tôi vào bếp uống một ngụm nước ấm. Lúc đi ngang qua phòng khách, ánh mắt tôi vô tình lướt qua chiếc đài cát-sét cũ kỹ đặt trên bàn trà. Nó chưa từng bị hỏng hóc, chỉ là đã quá nhiều năm rồi không có ai đụng tới. Tôi dừng bước, vươn tay xoay thử núm vặn, hoàn toàn không có chút phản ứng nào. Có lẽ là đôi pin con thỏ bên trong đã cạn sạch năng lượng từ lâu lắm rồi.
Tôi đứng lặng ở đó nhìn chiếc đài suốt vài giây, rồi không buồn tìm pin mới để thay thế.
Ngày thứ tám, tôi thức dậy từ rất sớm. Trời bên ngoài vẫn chưa sáng hẳn, trong phòng mờ mịt tối tăm. Tôi ngồi lặng lẽ trên ghế sofa, lắng nghe tiếng xe cộ thi thoảng vẳng lại từ đại lộ xa xôi ngoài kia. Chiếc điện thoại không còn bên người, tôi chẳng biết rõ lúc này là mấy giờ mấy phút, chỉ có thể dựa vào cảm giác tự nhiên của cơ thể để phán đoán thời gian.
Tôi bỗng chốc nhớ lại chuyện của rất nhiều năm về trước. Cũng vào những buổi sớm mai tĩnh mịch như thế này, tôi một mình nhốt mình trong căn phòng trọ chật hẹp này để luyện thanh, hát đi hát lại cùng một đoạn điệp khúc cho đến khi cổ họng khàn đặc mất tiếng mới thôi. Khi ấy tôi còn quá non nớt, chưa hề biết cách làm thế nào để bảo vệ dây thanh quản của mình, trong đầu non dại chỉ tâm niệm duy nhất một điều là không được phép mắc sai lầm, tuyệt đối không được phép để cho người thầy của mình phải thất vọng.
Giờ đây, những chuyện ấy đều đã chẳng còn mang ý nghĩa gì nữa rồi.
Tôi đứng dậy, đi vào bếp cắm ấm nước chuẩn bị nấu mì ăn sáng. Đúng vào khoảnh khắc nước trong ấm vừa sôi sùng sục reo lên, tôi bỗng nghe thấy dưới cầu thang truyền đến tiếng bước chân quen thuộc, từ xa lại gần, từng bước vững chãi, rồi dừng lại ngay trước cửa phòng tôi.
Tiếng gõ cửa bất ngờ vang lên. Ba tiếng, không nhẹ cũng không nặng, vô cùng rõ ràng và dứt khoát.

Bình luận0
Chia sẻ cảm nhận của bạn về bộ truyện này
Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận.